• Homepage
  • eReporter
    • eReporter 2006
    • eReporter 2005
    • eReporter 2004
  • Programs
    • Advocacy
    • Education
    • Economic Development
    • Health
    • Internships
    • Policy Analysis
    • Voter Education
    • Youth Leadership
  • Resources
    • Census - Vietnamese Americans
    • Community Organizations
    • Grant Writing
    • Nonprofit Resources
    • Southeast Asian American Directory
    • Translator: English - Vietnamese
  • Events
    • Past Events
  • Media Center
    • NCVA in the News
    • Newsletters
    • Photo Gallery
    • Press Releases
    • Publications
  • About NCVA
    • Advisory Board
    • Board of Directors
    • Contact Us
    • Financials
    • History
    • Privacy Policy
    • Staff
    • Make a Donation
English Việt Ngữ
Login | Register RSS
  • Homepage
  • News
  • Private Policy
  • Blog
  • News Feeds
    • Vietnam & Vietnamese News
    • Vietnamese Newspapers
    • Vietnamese Radio
    • The White House
    • U.S. Government
  • Links
  • Contact Us
  • VAYLC
  • Mailling list
About NCVA
Founded in 1986, the National Congress of Vietnamese Americans is a 501(c)(3) nonprofit community advocacy organization working to advance the cause of Vietnamese Americans in a plural but united America – e pluribus unum – by participating actively and fully as civic minded citizens engaged in the areas of education, culture and civil liberties.
Search
News 
MỘT CỘNG-ĐỒNG SUNG SỨC
Author : Nguyễn Ngọc Bích
MỘT CỘNG-ĐỒNG SUNG SỨC
Nguyễn Ngọc Bích

    Từ một con số khiêm-tốn có lẽ không quá 15 nghìn người trên toàn-quốc nước Mỹ trước năm 1975, cộng-đồng người Mỹ gốc Việt ngày nay đã lên đến trên 1,5 triệu người—tức là hơn một vạn phần trăm.  Phải nói, đây là một sự tăng trưởng thần-kỳ, tựa như câu chuyện của Thánh Gióng: Qua một đêm mà cậu bé còn trong tay mẹ bỗng biến thành một ông tướng dũng mãnh, cưỡi ngựa sắt, nhổ bụi tre, đánh đuổi giặc Ân, rồi phi lên trời để thành Phù-đổng Thiên-vương!
    Một sự hoá-thân như vậy hiển-nhiên cần được không những ghi lại mà còn phải nghiên cứu để làm nên lịch-sử của dân-tộc ta, dù như đây là lịch-sử của dân-tộc ở ngoài biên-cương chữ S.  
    
Những lựa chọn của chúng ta

    Phải nói, khi chiến-tranh Việt-nam sắp kết thúc, Hoa-kỳ không có ý định đón người tỵ nạn CS Việt-nam.  Sau khi một số người lên tiếng, ông Kissinger, thuộc Hội-đồng An-ninh Quốc gia lúc bấy giờ, mới cho nghiên cứu và đưa ra một danh-sách khoảng 37 nghìn người được xem là những thành-phần “có thể bị nguy hại nhất” nếu CS vào, do những ràng buộc và cộng-tác trong quá-khứ với chính-phủ và quân-đội Mỹ.  Về sau, con số này được tăng lên để gộp cả các thành-phần gia-đình (như vợ con) của những người kia, và con số được tăng lên 137 nghìn.  Đó chính là con số mà vào mùa Xuân năm 1975 Mỹ cho phép được vào Hoa-kỳ, lúc đầu còn dưới dạng “tạm-dung” (“parolee”), nghĩa là coi như những người có tội còn đang chờ thẩm xét.
    Đến khi thẩm xét sơ khởi xong qua các trại tỵ nạn Guam, rồi Pendleton, CA, Ft. Chaffee, AK, Indiantown Gap, PA, và Eglin Air Force Base, FL, số người này được “xì-pông-xo” ra khắp nước với lý-do nghe rất chính-đáng là để không gây gánh nặng cho một địa-phương nào và có lẽ cũng trong thâm-ý là để cho chúng ta chóng hội-nhập, hoà tan vào xã-hội nhập cư.
    Nhưng rồi tình gia-đình, tình bạn bè, nhu-cầu tâm-linh, tôn-giáo, và cả nhu-cầu cần có một môi-trường làm ăn buôn bán trong một cộng-đồng quen thuộc—nhất là khi đa-phần chưa biết tiếng Anh đủ để cạnh tranh một cách đồng-đẳng với người bản-xứ—đã mau chóng đưa chúng ta đến chỗ tập hợp lại ở một số vùng do chúng ta chọn lựa dựa trên những điều-kiện như khí-hậu, công ăn việc làm, sự đón nhận thuận lợi của địa-phương, hay/và những dịch-vụ xã-hội rộng rãi đối với người mới đến.
    Đó là lý-do mà như ta thấy những con số như được phản-ảnh trong các cuộc kiểm-kê dân-số 1980, 1990, 2000 và mới đây nhất vào tháng 4/2010.

Những con số mới nhất

    Gần đây, tổ-chức Boat People S.O.S. có đưa ra một bản nhận-định sơ-khởi về các con số mới nhất đo đạc cộng-đồng chúng ta, dựa trên kết-quả của cuộc kiểm-kê dân-số Hoa-kỳ năm 2010.  Theo đó, số người Việt hiện ở Hoa-kỳ là 1.548.449 người, so với 10 năm trước là 1.122.528 (năm 2000), 614.547 năm 1990, và 261.729 năm 1980.  Trước đó, cộng-đồng người Việt ở Mỹ chưa được tính riêng ra thành một nhóm.
    Như vậy, số người Việt ở Mỹ đã gia tăng 38% trong thập niên 2000-2010, tức là thêm 425.921 đầu người so với 10 năm trước.
    Nhưng những con số này, theo tôi nghĩ, không phản ảnh đúng thực-tế của cộng-đồng chúng ta.  Thứ nhất là vấn-đề “undercount” (tính không đủ) mà ta vẫn có trong các cộng-đồng thiểu-số, có thể đến 6-7%.  Thứ hai là vấn-đề của những người lai, được tính vào cột nào, cột cha hay cột mẹ.  Thứ ba, và đây còn là một vấn-đề to lớn hơn, vấn-đề mà tôi xin gọi là “quốc-tịch gốc versus ngôn ngữ, văn-hoá.”  Tôi đang muốn nói đến vấn-đề của nhóm người Việt gốc Hoa hay gốc Miên, chẳng hạn.  Những người này, khi được nhận vào Mỹ thì là dưới danh-nghĩa “quốc-tịch Việt” (“Vietnamese nationality”) nhưng khi vào rồi thì lại được kiểm-kê dưới phân-mục ngôn ngữ hay/và văn-hoá (“Are you Chinese or Vietnamese?  Cambodian or Vietnamese?”).  Trường-hợp đó, phần lớn những người trả lời sẽ trả lời “tôi là người Hoa, người Miên v.v.” và họ tức-khắc được đưa sang cột người Hoa hay người Miên, mặc dù trong hầu hết mọi nghĩa khác họ là người Việt, họ sinh sống trong cộng-đồng người Việt, làm ăn với người Việt, đi chùa đi nhà thờ với chúng ta, con họ đi học cùng trường với con em chúng ta, nói tiếng Việt trong rất nhiều trường-hợp và chưa kể là không ít người trong số đó lấy vợ, lấy chồng, lập gia-đình với con em chúng ta.  Do vậy mà tôi nghĩ con số về người Việt ở Mỹ, theo kiểm-kê, là có thể mất tới 200.000 người hay hơn vì bị đẩy sang cột khác.
    Nói tóm lại, nếu tôi là một người làm dịch-vụ xã-hội hay làm ăn buôn bán, tôi không thể không kể những người đó trong cộng-đồng người Việt được.

Những nơi tập trung người Việt

    Theo thống-kê mới nhất, gần 3/4 dân-số người Việt tập trung trong 10 tiểu-bang: California (37,58%), Texas (13,62%), Washington State (4,30%), Florida (3,78%), Virginia (3,46%), Georgia (2,92%), Massachusetts (2,77%), Pennsylvania (2,52%), New York (1,86%), và Louisiana (1,83%).
    Khu-vực đông dân VN nhất vẫn là vùng Los Angeles – Long Beach – Santa Ana (271.234 người).  Đông thứ hai là vùng San Jose – Sunnyvale – Santa Clara (125.774).  Các hạng 3 tới 5 là: vùng Houston – Sugar Land – Baytown, TX (103.525); vùng Dallas – Fort Worth – Arlington, TX (71.839); và vùng Washington DC – Arlington – Alexandria (58.767).
    Nếu kể thành-phố thì đông dân nhất về người VN là San Jose (100.486), gần 10% tổng-số dân trong thành-phố lớn thứ 11 của Hoa-kỳ, sau đó là Westminster, CA (36.058), Houston, TX (34.838) và San Diego, CA (33.149).
    Tuy-nhiên, nếu nói về tỷ-lệ người Việt so với tổng-số dân thì thị-trấn Midway, CA, đứng đầu (41,4%), nghĩa là cứ gần hai người thì một trong hai người đó là người Việt; tiếp theo là Westminster, CA (40,2%), nơi được gọi một cách bán-chính-thức là “thủ-đô tỵ nạn”; rồi đến Garden Grove, CA (27,7%), Fountain Valley, CA (20,7%) và Morrow City, GA (20,3%).
    “Tuỳ theo lăng-kính nhìn, những con số trên đây có thể gợi nhiều câu hỏi để chúng ta suy tư,” Tiến-sĩ Nguyễn Đình Thắng của BPSOS phân-vân.  “Chẳng hạn, liệu các tổ-chức cộng-đồng ở mỗi địa-phương có phát triển dịch-vụ xã-hội để đáp-ứng nhu-cầu của sự gia tăng dân-số quá nhanh?  Liệu nền kinh tế cộng-đồng có phát triển lành mạnh đủ để gánh vác số nhân-khẩu gia tăng trong khu-vực?  Liệu cộng-đồng có kế-hoạch để giúp người tỵ nạn và di-dân mới trở thành công-dân và ghi danh cử-tri?  Liệu cộng-đồng có kế-hoạch gì để chăm lo cho số người Việt bước vào tuổi xế chiều ngày càng đông?  Liệu cộng-đồng có dự-tính gì để đưa người vào các guồng máy lập pháp và hành chính ở địa-phương.  Và còn nhiều câu hỏi nữa.”

Một cộng-đồng không có vấn-đề?

    Có người lại cho rằng ta có thể tự-mãn vì cộng-đồng Việt ở Hoa-kỳ không có vấn-đề gì to lớn vì phần lớn người Việt đều đỗ đạt, thành công.  Nghĩ thế, nói thế chỉ có nghĩa là chúng ta không có trí nhớ, quá mau quên đi những ngày gian khổ.  Làm sao chúng ta có thể quên được ngay lý-do căn-bản chúng ta có mặt ở đây—từ một cộng-đồng mà đáng kể chỉ có ở Pháp trước năm 75, chúng ta nay đã thành một cộng-đồng thế-giới trải dài, trải rộng trên khắp năm châu, trên hơn 100 quốc gia, có thể phần nào so sánh với Diaspora của người Do-thái?  Với khoảng 3 triệu rưởi người ở ngoài nước, cộng-đồng người Việt hải-ngoại, theo quan-niệm của Luật-sư Trần Thanh Hiệp, là tương-đương với một quốc gia nhỏ và có thể là hiệu cờ cho một nước VN dân-chủ tương-lai không xa.  Và với khoảng 8 tỷ đô-la chúng ta gởi về trong nước hàng năm, phần lớn là cho không, không lãi, chúng ta giúp cho gia-đình và đồng-bào hơn cả thế-giới cho VNCS vay hàng năm!
    Thế nhưng không phải là chúng ta không có vấn-đề.  Theo một cuộc thăm dò năm 2009 của Nha Kiểm-kê Dân-số Hoa-kỳ thì trong lớp người từ 25 tuổi trở lên, 30,4% người Việt chưa hoàn-tất trung-học (so với 14,7% người Mỹ nói chung) và chỉ có 6,6% là học trên đại-học (so với 10,3% người Mỹ nói chung).  Mấy con số này (do Tiến-sĩ Thắng nêu ra) hơi lạ vì theo thống-kê năm 2000 mà Geoscape Intelligence System đưa ra thì người Việt chúng ta có tới 19% là có xác-số cao hoàn-tất bằng cử-nhân (bachelor’s degree) hay cao hơn.  Tuy-nhiên, ngay với con số này, chúng ta cũng là nhóm người thấp nhất trong các nhóm thiểu-số Á-đông thuộc loại này: Ấn-độ là 61%, Trung-hoa là 47%, Đại-Hàn là 43%, Phi-luật-tân là 42% và Nhật-bản là 40%, nghĩa là vẫn còn gấp đôi con số của ta.
    Vẫn theo Tiến-sĩ Thắng, người Việt trên 65 tuổi mà bị khiếm-dụng, nghĩa là không hoàn-toàn sử dụng được các năng-lực của mình (trong tiếng Anh là có “disability”), lên tới 40,4% so với 37,4% trong trường-hợp người Mỹ nói chung.
    Trong số người Việt không sinh ở Hoa-kỳ thì tới một nửa (50%) chưa có quốc-tịch.
    Trong số người Việt 50 tuổi thì 55% gặp trở ngại về Anh-ngữ.  Nếu chỉ tính những người lớn hơn, tức nhóm cao-niên, thì tỷ-lệ bị trở ngại ngôn ngữ còn tăng hơn nhiều.
    Trong các gia-đình người Việt thì 19,6%, tức cứ 5 người thì có một người, không có bảo hiểm sức khoẻ (so với 15,1% người Mỹ nói chung), và 13.7% nằm trong diện nghèo khó so với 10,5% người Mỹ nói chung

Kết-luận

    Tóm lại, chúng ta có nhiều điều đáng hãnh-diện về chúng ta, những điều chúng ta đã thực-hiện được trong 36 năm qua, tức bằng một lần rưỡi thời-gian của miền Nam tự do.  Nhưng mặc dù chúng ta, trong nhiều nghĩa, đã tự-lực tự-cường và tìm ra được những giải-pháp đặc-thù cho cộng-đồng chúng ta để giữ được bản-sắc dân-tộc ở xứ người, để chúng ta không bị hoà tan trong cộng-đồng chính-mạch, chúng ta cũng không nên quên là chúng ta đừng chỉ nên nhìn xuống để cho rằng “chẳng mấy ai bằng mình.”  Chúng ta cần nhìn lên để tìm đường thăng-tiến, tiến để ít nhất bằng người (tỷ-dụ, bằng những nhóm Á-đông khác) và nhất là để chúng ta ngang bằng với thách-thức của thời-đại và có thể một ngày không xa, góp vào việc giải-phóng quê hương—bằng những con đường hoà-bình và trí-tuệ—cùng với gần 90 triệu dân ở trong nước.

Đọc tại Hội-nghị quốc-tế ở Viện Việt-học (Westminster, CA) về
“Sự hình-thành của Cộng-đồng VN ở Mỹ và một số quốc gia”
23 tháng 7, 2011
PDFPrintSend Mail
● MỘT CỘNG-ĐỒNG SUNG SỨC
● Thư Mời
● MỘT SỐ THÀNH-TÍCH TIÊU-BIỂU CỦA NGHỊ-HỘI
● LẦN ĐẦU TIÊN, NGHỊ-HỘI SẼ HỌP ĐẠI-HỘI Ở DALLAS, TX
● NGHỊ-HỘI HÔM NAY: TUỔI TRẺ, KHOA-HỌC, THỰC-TIỄN
● VAYLC 2011 Flyers
● What's News With VAYLC This Year?
● VAYLC! What Is it?
● The Overseas Vietnamese and the South China Conflict: What Can We Do to Contribute to a Solution?
● Formation and Development of the Vietnamese Community in the U.S.
● NCVA 25th Annual National Convention
● Resolutions of NCVA 24th Annual National Convention
● Report of NCVA 24th Annual National Convention
● NCVA 24th Annual National Convention
● Invitation To VAYLC 2009
● VAYLC 2009 UPDATE
Back To Top
Copyright © 2013 www.ncvaonline.org All rights reserved www.vnvn.net
Best viewed with FireFox, Chrome, Safari, Opera, IE 8 at resolution of 1024x768